Hoài Niệm Ngày di tản 30 tháng Tư

Tháng Tư 29, 2011 § Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Hoài Niệm Ngày di tản 30 tháng Tư


Ngày tôi rời Việt Nam vào năm 1975, tôi chỉ là đứa bé ngu ngơ chẳng có một khái niệm gì về sự biến cố quan trọng của đất nước mình, làm sao biết cảm nhân sâu sắc hay xúc động dạt dào cùng cái nghẹn ngào nước mắt trước số phận làm người dân mất nước và phải rời bỏ quê hương của mình.

Vì bố làm cho sở Mỹ nên cả gia đình bố mẹ và con cái còn độc thân được quân đội Mỹ trực tiếp di tản trước khi CS xâm chiếm Saigon. Những anh chị lớn của tôi vì đã có gia đình nên không được nằm trong danh sách di tản. Họ đã phải ở lại. Ngày 28 tháng tư, gia đình bố tôi bắt đầu một hành trình lưu lạc đến một nơi khác xa nửa vòng trất đất. Xem như là mãi rời xa đất mẹ một cách vĩnh viễn.

Buổi trưa hôm đó, gia đình bố mẹ tôi và các gia đình khác đã có mặt tại một cơ sở để được chuyển về phi trường Tân Sơn Nhất. Tôi nhớ rất rõ hình ảnh những người lớn ngồi nói chuyện với nhau rất nhiều, rất lâu với tâm trạng lo âu như chẳng bao giờ dứt. Cả ngày cứ ngồi chờ và chờ cho đến khi được họ cho đi thì đi. Nhưng kết cuộc, tất cả mọi người phải ngủ lại đêm tại cơ sở vì có tin lính hai bên nổ súng dữ dội ở Tân Sơn Nhất. Người lớn họ lại nhao nháo lên mỗi khi nghe tiếng pháo kích vẳng lại, trong khi tôi và những đứa trẻ khác rất vô tư ngồi chơi những trò chơi con nít . Bên ngoài cổng sắt phía kia, từ đâu xuất hiện đám người. Khuôn mặt họ hớt hãi, dơ tay gào hét, luôn miệng năn nỉ xin vào để di tản cùng nhưng vô vọng.

Sáng hôm sau, ba bốn chiếc xe buýt đã tới để chuyển tất cả mọi người đến phi trường và mỗi gia chỉ được đem theo duy nhất một vali. Lúc này thiên hạ bắt đầu hỗn loạn, mất trật tự, họ bồng bế nhau, tay xách, tay mang kêu réo nhau ầm ĩ và tranh dành nhau leo lên xe buýt. Tôi và anh trai kế bị những bàn tay đàn ông cứng như sắt, chặn chéo ngang cổ, không cho hai chúng tôi bước lên bậc thang xe buýt. Lần đầu tiên trong đời bé bỏng của tôi biết sự kinh hoàng là gì và cảm giác bị nghẹt thở như thế nào ! Con người chung quanh bấy giờ họ trông rất dữ tợn và họ liên tục xổ đẩy chen lấn nhau, gây nhau. Phía sau tôi người ta cứ miệng la tay dơ, đẩy nhau dồn lên phía trước. Càng lúc tôi càng thấy rất đau cổ và muốn tắt thở tức khắc! Sau cùng hai anh em tôi cũng leo lên được xe buýt và ngồi với gia đình. Bỗng dưng tôi nghe bố hốt hoảng hỏi mẹ ” Thảo đâu rồi ? “…. và một chị khác tôi cho biết chị Thảo tôi vì tình nguyện ẵm bế dùm đứa con của một cô nào đó nên phải đi chuyến xe buýt thứ hai đằng kia. Bố mẹ tôi lo âu ra mặt, ánh mắt luôn dõi theo phía ngoài cửa sổ xe tìm kiếm bóng dáng của chị tôi mà chẳng biết làm sao hơn vì xe buýt đã lăn bánh chạy ra ngoài con đường chính để đến phi trường .

Phi đạo Tân Sơn Nhất bấy giờ đã hư hỏng nặng nên các phi cơ không thể đáp được nữa. Mỹ cho dân di tản bằng trực thăng. Lại thêm một lần nữa trong đời tôi tưởng sẽ chết mất thôi khi ngồi trong trực thăng không đeo giây an toàn mà chỉ phải bám vào sợi dây nào đó. Người ta nghiêng ngã qua một phía khi trực thăng lạng qua một bên, và tôi có cảm tưởng mình sẽ rớt ra ngoài cái lỗ hổng to đùng phía sau trực thăng! Tôi thấy người đàn bà nào cũng khóc lóc, há miệng hét to. Và tôi cũng đã hét to như họ. Tiếng hét hãm thanh trông rùng rợn hơn cả tiếng trực thăng vần vũ liên tục trên bầu trời. Từ trên không trung nhìn xuống, tôi thấy Saigon nhỏ dần, nhỏ dần cho đến khi dưới chỉ là một biển rộng lớn mênh mông ! Nét mặt từng người hiện rõ sự hoang mang không biết mình đang đi về đâu…

Trực thăng đáp xuống hàng không mẫu hạm ” USS midway”, những cánh quạt còn quay vù vù khiến tấm thân bé nhỏ của tôi muốn bay theo lên cao. Thiên hạ nắm chặt sợi dây thừng khổ to luôn đong đưa và lần mò đi về phía an toàn của con tàu khổng lồ này. Mỗi người chúng tôi được lính Mỹ trao một trái táo. Tôi không bao giờ quên giây phút đâu tiên cầm trong tay trái táo to, thơm ngon như thế! Tôi thực sự vô cùng sung sướng chỉ mong muốn để dành nó suốt đời. Nhưng vì đói lả, tôi nhanh chóng quên ước mong vừa thoáng trong đầu và hả to miêng ngoặm một miếng lại một miếng… cho đến khi bàn tay chỉ còn lại mùi thơm ngọt của táo. Trời ơi! Trái táo ngon ơi là ngon! Tươi dòn đến thế ! Sau này sống ở Mỹ tôi mới biết đó là trái táo gọi là “ red apple”.

Chiều đã ngã màu, người ta tiếp nối nhau đi không ngừng nghỉ theo chỉ dẫn của lính Mỹ xuống dưới tàu, xuyên qua nhiều ngõ ngách, nhờ thế bấy giờ tôi đã có cơ hội nhìn thấy phía trong chiếc tàu mẫu hạm ra làm sao! Thật là lạ lùng và kỳ diệu đối với đứa con gái nhỏ tuổi như tôi. Trời đổ tối. Biển và màu đen ngòm khiến tôi ớn lạnh mà cuộc di tản mãi tiếp tục trong bóng đêm đến rạng sáng. Lính Mỹ chia từng nhóm người xuống xà lan để qua tàu dân sự. Tôi không biết rõ đã có bao nhiêu người bị say sóng trên chiếc xà lan, nhưng bố tôi và tôi là hai nạn nhân bị say sóng thê thảm nhất. Đây là lần thứ ba tôi tưởng sẽ chết thôi ! Chiếc xà lan luôn đong đưa làm bố và tôi ói mửa, mặt xanh như tàu lá và người thì mềm nhũn như bún mặc kệ cho thiên hạ đi ngang đạp lên tay chân, thân thể ! Và đĩ nhiên bố và tôi là hai người cuối cùng được đưa lên con tàu to lớn đã được thả neo. Bố nằm chèo veo trong lưới câu cá và họ đã kéo bố lên trên tàu. Tôi thì được người thủ thủy ẵm rồi thảy qua tay một người thủ thủy khác. Họ nhanh nhẹn quăng tôi như quăng một con cá tươi vừa bắt phải ! Cảm giác mệt mỏi, kiệt sức gần chết đó mãi ám ảnh tôi suốt đời.

Những ngày tiếp đó lênh đênh trên con tàu hàng hóa của Mỹ cũng là một kỉ niệm khó quên đối với tôi. Một buổi sáng trên boong tàu tôi ngỡ ngàng chứng kiến một cảnh tượng vô cùng xúc động. Lần đầu tiên trong đời nhỏ bé tôi biết xúc động thực sự là gì. Người ta xúm lại gần chiếc radio nghe lời một ông tướng Việt Nam Cộng Hòa tuyên bố đấu hàng csVN, thì mọi người trên tàu đều khóc. Có người khóc gào rất đau đớn; có người khóc thật âm thầm nhưng vẫn thấy được sự xót đau, tủi nhục của họ. Rồi bỗng nhiên một người trong đám đông thổi kèn trumpet bài quốc ca Việt Nam. Bầu không khí trở nên im lặng và buồn thê thảm. Tôi thấy rõ những giọt nước mắt lăn trên má của từng người và của chính tôi. Tôi chợt hiểu vì sao tôi lại ứa nước mắt. Tôi hiểu quê hương tôi ở đâu và thế nào là chia ly, mất mát, lưu vong….

Sau vài tuần trên biển Thái Bình Dương, mọi người được đưa tới đảo Guam, thuộc lãnh thổ Hoa Kỳ để chờ đợi sự sấp xếp thủ tục tỵ nạn vào nước Mỹ. Dân chúng tỵ nạn được ở trong lều lính và ngày ngày cứ ba lần đi sắp hàng để lãnh phần cơm. Dưới ánh nắng cháy sạm da, cái hàng dài đi lãnh cơm trưa thật là kinh hồn. Lần đó, tôi đang đứng sắp hàng thì có tiếng người phụ nữ hét to “ ôm eo nhau bà con ơi, đừng cho nó chen vào ! “. Đang đói teo bụng mà lại bị ai đó ôm eo mình kéo qua kéo lại, đau muốn đứt ruột khiến tôi lại nhớ cái màn chen lấn lên xe buýt xém bị tắt thở. Thời gian ở đảo Guam, tôi suốt ngày rong chơi nơi bờ biển, và mỗi chiều thì được ngồi xem phim hoạt họa ngoài trời hay nghe lính Mỹ trình diễn văn nghệ. Tôi tưởng chừng tôi đang được nghỉ những tháng hè dài nhất trong đời ! Nhưng đối với bố mẹ, mỗi ngày trôi qua là lòng như rối bời những hoang mang và lo âu cho tương lai. Bố mẹ rất khổ sở vì không biết chị tôi thất lạc ra sau? Sống hay chết? Cho đến một hôm có người cho biết chiếc xe buýt thứ hai bị lạc đoàn hôm đó đã không đi đến vào phi trường Tân Sơn Nhất và tất cả mọi người đều bị kẹt lại, trong đó có chị Thảo tôi. Sau tin đó, bố quyết định xin tỵ nạn ở Mỹ thay vì qua Pháp.

Hành trình di tản của gia đình tôi gần như ổn định khi được chuyển vào trại tỵ nạn Indianna Town Gap, tiểu bang Pennsylvania chỉ để chờ người bảo lảnh. Ở trại tỵ nạn tôi cùng đám trẻ được soeur người Mỹ dạy tiếng Anh. Lần đầu tiên tôi được chiêm ngưỡng đôi mắt xanh kỳ diệu, tóc vàng óng ả, mũi thanh cao và nụ cười hiền từ luôn thoát ra trên khuôn mặt đẹp sáng như thiên thần của Seour. Chúng tôi gọi soeur là Mẹ. Gọi bằng tiếng Việt rõ ràng đó chứ ! Mẹ nói tiếng Mỹ với chúng tôi và chúng tôi nói tiếng Việt với Mẹ. Tay chỉ trỏ cho đến khi hai bên gật gù như hiểu nhau quá rồi! Tôi yêu lắm hình ảnh Mẹ thường ôm đàn guitar ngay dưới góc cây và tập cho chúng tôi hát những bài hát tiếng Mỹ rất ngắn và hay. Rồi một ngày Mẹ đến chào tạm biệt lũ trẻ, tôi không nhớ vì lý do gì nhưng biết hôm đó đứa nào cũng khóc ướt áo của Mẹ. Sau đó tôi không còn nhớ ai là người thay thế cho Mẹ, và trong ký ức tôi, luôn luôn nhớ đến hình ảnh của Mẹ rất nhân từ đến trong đời thơ ấu của tôi. Cho đến ngày hôm nay, tôi chưa bao giờ quên khuôn thánh thiện của nữ tu đó. Thật đáng tiếc tôi đã không biết tên của Seour là gì.

Thời gian ở trại tỵ nạn không biết bao lâu. Vào tháng chín của năm 1975. Gia đình bố mẹ được hai nhà thờ Mỹ bảo lãnh về ở thành phố nhỏ, Hollidayburg, tiểu bang Pennsylvania. Cha và mục sư Mỹ cùng các người trong nhà thờ đối xử thật tốt với gia đình chúng tôi. Họ rất sốt sắng lo cho cuộc sống đàng hoàng đầy đủ cho gia đình bố mẹ, tìm công việc tốt cho bố và theo dõi sự học hành của anh chi em chúng tôi rất kỹ lưỡng. Tôi luôn trân quý những kỉ niệm rất đầu tiên, thật đẹp của tuổi thơ ở năm đầu sống nơi thành phố nhỏ bé này. Ngày đầu tiên đi học trường Mỹ, bị đám học sinh bu quanh thích thú sờ tóc, sờ mặt vì chưa bao giờ chúng nhìn thấy khuôn mặt Á Đông. Có một ngày tôi xỉu trong lớp vì đói mà lại không ăn được thức ăn Mỹ. Tôi cũng chẳng bao giờ quên một tối mùa đông tuyết rơi thật nhẹ và cả nhà bước ra vườn cùng nhau lần đầu chiêm ngưỡng tận mắt vẻ đẹp diệu kỳ, tinh khôi của tuyết. Tôi đấp đấp đá tuyết trong tay rồi hỏi mẹ đổ syrup lên, ăn được không? Nhưng liền sau đó tôi tự lè lưỡi ra nếm ngay những bông tuyết đang rơi xuống không ngừng.

Gia đình bố mẹ sống bình yên, nhưng rất buồn bã ở thành phố không một người Việt Nam đồng hương nào để hàn huyên thăm hỏi. Cho đến khi một hôm nhà thờ ở thành phố cận kề nhờ bố mẹ cùng đi theo để đón một gia đình Việt Nam họ vừa bảo lãnh, bố mẹ tôi rất vui sướng như được gặp lại thân nhân bao nhiêu năm xa cách. Thời đó, dân Việt Nam ty nạn gặp đồng hương là một niềm vui, là một hạnh phúc tràn trề! Từ đó gia đình bố mẹ rất thân với gia đình bác Lê Văn Tỵ cho đến bây giờ.

Sau một năm không chịu được cái lạnh buốt mùa đông (nhất là không tìm được một chai nước mắm nào trong chợ), bố quyết định giã từ nhà thờ bảo lãnh gia đình để dọn về California để xum họp với hai người con cũng thoát khỏi Việt Nam và đang định cư ở San Diego, California. Sau này các gia đình anh chị của tôi đều lần lượt qua Mỹ đoàn tụ với bố mẹ, bằng đường vượt biên và chính thức. Bố mẹ rất mãn nguyện tất cả 11 đứa con đã được định cư cùng tiểu bang California.

Mỗi khi 30 tháng tư trở về, trong tôi sống lại hình ảnh kỷ niệm quá khứ của một hành trình di tản lịch sử cận đại của dân miền nam Việt Nam. Sài gon đã mất tên và tự do không còn nữa. Tôi ghét chiến tranh và sự tàn phá của nó! Chiến tranh chỉ hiện ra trong đầu tôi những chia ly, tan tóc, chết chóc, đổ nát, điêu tàn, mất mác. Nhưng ngày 30 tháng tư là ngày tôi ghi nhớ vì hai chữ tự do mà người Viêt tỵ nạn có mặt khắp nơi trên thế giới và cũng biết ơn sự hy sinh xương máu của biết bao người dân, người lính đã đổ xuống để lớp trẻ chúng tôi có được cuộc sống ngày hôm nay.

Ngọc Thể

28 tháng Tư, 2011
Image

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

What’s this?

You are currently reading Hoài Niệm Ngày di tản 30 tháng Tư at Ngọc Thể.

meta

%d bloggers like this: